Đối với trẻlứa tuổi này công tác CTS chủyếu tập trung vào vai trò của cha mẹtrẻ.
Các chuyên gia CTS là người tưvấn và hướng dẫn phụhuynh cách giáo dục và hỗtrợcon
mình. Nếu trẻ đến nhà trẻtrong giai đoạn này thì các cô bảo mẫu cũng nhận được tưvấn và
hướng dẫn từcác chuyên gia CTS. Tất nhiên mọi hoạt động CTS ở đây đều dựa trên 5 giai
đoạn cơbản của quá trình CTS nói chung như đã trình bày ởtrên.
36 trang |
Chia sẻ: Mr Hưng | Lượt xem: 2850 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Giáo dục học - Chương 4: Tổ chức công tác can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hợp với con em mình nhất. Để các buổi thảo luận, các cuộc họp thành công, giáo viên
cần chú ý các kĩ năng sau:
- Nêu rõ mục đích của buổi họp/ thảo luận và tập trung vào các mục đích này
- Chuẩn bị tổ chức tốt về địa điểm, thời gian
- Chuẩn bị kĩ càng nội dung/ tài liệu của cuộc họp/ thảo luận
- Tôn trọng ý kiến của phụ huynh và các thành viên: lắng nghe, khuyến khích, phản
hồi, khái quát, đặt câu hỏi, động viên,
Kĩ năng chuẩn bị tài liệu hướng dẫn phụ huynh
Tài liệu hướng dẫn phụ huynh không phải đơn thuần là đưa cho họ những quyển sách
về chuyên môn về giáo dục trẻ khiếm thị mà giáo viên phải biết lựa chọn kiến thức, chắt
lọc và biên soạn thành các tập tài liệu dễ hiểu, dễ sử dụng và phải phù hợp với nhu cầu của
Quy trình tiếp xúc
Tạo lập mối quan hệ-> tìm hiểu thông tin-> xác định vấn đề->
giải quyết vấn đề-> hẹn lần gặp tiếp theo.
- 42 -
từng phụ huynh. Nó đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn, biết tự thiết kế tài liệu phù hợp
với đối tượng mà mình hướng dẫn. Như vậy, giáo viên cần có các kĩ năng sau:
- Biết đánh giá được nhu cầu và mức độ hiểu biết của đối tượng hướng dẫn.
- Biết lựa chọn và chắt lọc thông tin.
- Kĩ năng vi tính.
- Biết sáng tạo tài liệu có tính thẩm mỹ, logic để hấp dẫn người xem.
Kĩ năng thu thập thông tin
Kĩ năng đặt câu hỏi trong đánh giá thị giác chức năng:
- Dùng câu hỏi mở để thu được thông tin chính xác về trẻ, gia đình trẻ.
- Giáo viên phải linh hoạt trong cuộc nói chuyện, đánh giá
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, ngôn ngữ phù hợp với trẻ và gia đình.
- Phải có phản hồi lại thông tin mà gia đình trẻ cung cấp, xem thông tin đó có đúng
không?
Các thông tin cần thu được qua:
- Quan sát
- Đánh giá
- Bảng hỏi
Kích thích và rèn luyện một số kĩ năng cho trẻ khiếm thị
Kĩ năng tình cảm, xã hội
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tình cảm tự nhiên giữa trẻ
khiếm thị và cha mẹ. Một trong những yếu tố này là do tình trạng mắt gây nên. Tiếp xúc cơ
thể buộc phải thay thế cho tiếp xúc mắt khi trẻ giao tiếp với mẹ. Cha mẹ cần ôm ấp, vỗ về,
vuốt ve và bế ẵm trẻ khiếm thị nhiều hơn; kết hợp với những âm thanh và lời nói dịu dàng,
an ủi để giúp trẻ hình thành sự ràng buộc tình cảm giữa họ và trẻ.
Trẻ có nhiều phản ứng với mẹ. Một em bé khiếm thị có thể không có những cử
động sôi nổi, phấn chấn như cha mẹ vẫn mong muốn mỗi khi họ ở gần con. Họ cần hiểu
rằng lí do khiến con mình thụ động và im lặng mỗi khi họ ở cạnh con là bởi vì trẻ đang tập
trung lắng nghe họ. Trẻ có thể có những cử động rất khẽ ở ngón tay và các đầu ngõn chân,
đó cũng chính là phản ứng của chúng với tiếng nói của cha mẹ nhưng cha mẹ rất hay quên
điều này.
Khi đưa con đi làm chuẩn đoán tật khiếm thị, cha mẹ thường cảm thấy mình có tội
và phải chịu trách nhiệm về tật bệnh của con mình và từ đó tạo nên được mối quan hệ tốt
giữa mẹ và trẻ.
Kĩ năng vận động
- Do mắt kém hoặc không còn nhìn thấy gì, trẻ khiếm thị dễ bị hạn chế về khả năng
vận động. Việc sinh hoạt hàng ngày như tắm táp và mặc quần áo cũng như mát xoa có thể
giúp trẻ hiểu rằng nó đang tách biệt với thế giới xung quanh. Một hình ảnh chính xác về cơ
thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của hoạt động điều phối, tư thế và vận
động sau này.
- Trẻ mù thường chỉ có một tư thế nhất định. CHúng thiếu động lực để xoay người,
lẫy. Quá trình phát triển tự nhiên này trở nên khó khăn khi trẻ không nhìn thấy gì và người
lớn phải dạy trẻ qua các hoạt động chơi, khuyến khích dùng những âm thanh, tiếng động
hấp dẫn để kích thích. Ngoài ra cần chú ý:
- 43 -
+ Không nên thay đổi vị trí của đồ đạc trong phòng, ít nhất là khi trẻ mới tập đi.
+ Khi trẻ đã đi vững, cần động viên để trẻ tập chạy.
+ Tạo không gian ngoài tời an toàn không có vật cản để nơi trẻ cảm thấy tự do.
+ Khuyến khích trẻ tham gia vào những trò chơi phát triển vận động.
+ Hãy để trẻ độc lập trong các hoạt động từ đó trẻ sẽ có nhiều trải nghiệm hơn.
Kĩ năng xúc giác
Đôi khi người ta cho rằng trẻ khiếm thị sẽ sử dụng giác quan của nó một cách rất tự
nhiên. Nhưng đáng tiếc là điều này lại không phải như vậy. Vì không thể hiểu được thế
giới xung quanh, trẻ thường có xu hướng thu mình để không phải chạm vào những vật lạ
do đó cần khuyến khích các em dùng tay. Nên thận trọng, đừng đặt đồ vật đột ngột vào tay
trẻ. Điều này có thể làm trẻ thu mình lại và không dám dùng tay. Tốt hơn là người lớn nên
cầm tay trẻ, đưa ra để trẻ chạm vào đồ vật rồi nhẹ nhàng khuyến khích trẻ tự cầm lấy.
Kĩ năng thị giác
Điều quan trọng là trẻ khiếm thị cần phải học cách sử dụng phần thị lực còn lại. Đối
với trẻ khiếm thị, chúng dành nhiều thời gian và sức lực để hiểu những gì mình đang nhìn
thấy. Thông tin thị giác có thể bị bỏ qua cũng giống như khi một số âm thanh không được
nghe thấy vì chúng không có nghĩa.
- Cần động viên và khuyến khích trẻ khiếm thị hiểu những hình ảnh mờ ảo hoặc đứt
đoạn mà trẻ khiếm thị nhìn thấy.
- Có thể khuyến khích trẻ nhìn bằng việc sử dụng những đồ vật có màu sắc, phản
chiếu và những hình ảnh đơn giản có độ tương phản tốt và đường viền rõ ràng.
- Đặt đồ vật gần để trẻ với tây lấy trước. Nên thay đổi vị trí của đồ vật, những đồ
chơi và đồ vật phát ra tiếng động có thể báo động cho trẻ mù và thu hút được sự chú ý thị
giác của trẻ.
Kĩ năng ngôn ngữ
- Hầu hết cha mẹ nói chuyện với con cái rất tự nhiên, nhưng với trẻ khiếm thị,
chúng cần hiểu ngôn ngữ có tầm quan trọng thế nào. Rất lâu trước khi trẻ biết nói, cha mẹ
nên gọi tên đồ vật mà trẻ gặp, chẳng hạn như cái lọ, chén, thìa và mô tả những vận động
đơn giản như “lên” và “xuống”. Cần nói cho trẻ hiểu hơn về những gì nó trải qua cũng là
cách để giúp trẻ dần dần hiểu những gì đang diễn ra trong môi trường xung quanh.
- Vấn đề về âm thanh nền ở nhà là điều ta cần xử lý cho khéo léo vì điều này cản
trở không cho trẻ nghe và phát triển khả năng hiểu tiếng ồn của môi trường tự nhiên tồn tại
ở xung quanh chúng.
- Khi trẻ bắt đầu tập nói, cha mẹ cần nhớ là dành đủ thời gian để trẻ phản ứng lại
những câu hỏi hoặc câu chuyện của mình. Đừng nên cung cấp cho trẻ câu trả lời ngay.
Những câu hỏi mở có thể kích thích phản hồi của trẻ. Những câu hỏi này khuyến khích trẻ
tiếp cận với ngôn ngữ có ý nghĩa.
Điều quan trọng là sự phát triển ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ đến những trải
nghiệm của trẻ và những đồ vật mà nó đã khám phá.
Kĩ năng độc lập
- 44 -
Một đứa trẻ độc lập sẽ trở thành một người lớn độc lập. Phải cân bằng giữa việc
giúp trẻ khiếm thị và khẳng định rằng chúng cũng phải tự làm lấy mọi việc.
Cho ăn là một ví dụ điển hình để thấy tìm ra được sự cân bằng trong việc này là rất
khó. Cha mẹ thường lo lắng muốn rằng con mình phải được ăn đủ số lượng và ví thế có thể
kéo dài thời gian xúc cho chúng lâu hơn ngay cả khi trẻ đã tự làm được việc đó rồi.
Đối với những kĩ năng tự phục vụ cần lưu ý những điểm sau:
- Khuyến khích trẻ bắt đầu học những kĩ năng này càng sớm càng tốt.
- Trẻ có thể phải học, thực hành và làm những kĩ năng này lâu hơn.
- Cần dạy những kĩ năng cụ thể.
- Điều chỉnh đồ dùng và quần áo cũng có thể có tác động.
- Cần tạo ra được các nếp sinh hoạt phù hợp trong gia đình và duy trì nó lâu dài.
* Tổ chức can thiệp sớm cho trẻ khiếm thị tại trường mầm non
Những dấu hiệu khiếm thị ở trường mẫu giáo
Vẻ bề ngoài của mắt và những vấn đề thị giác trong lớp học
Sưng/ viêm, đục đỏ hoặc chảy nước mắt
Sụp mí mắt, sưng phồng hoặc đóng vảy
Thường xuyên bị lên lẹo
Có bất cứ loại lác nào
Chuyển động mắt không bình thường trong đó có cả chuyển động nhanh
không cố ý của cả hai mắt theo cả hướng dọc và ngang, đôI khi của động
đảo tròn (rung giật nhãn cầu)
Chớp mắt, cọ xát và không toảI máI với ánh sáng chói, mắt cảm thấy khô.
Giác mạc đục
Khoảng cách nhìn gần không bình thường
Nhìn chằm chằm ra các cạnh khônh bình thường khi tập trung vào một công
việc đòi hỏi thị giác
Phàn nàn là bị choáng, đau đầu hoặc mắt thấy khó chịu nói chung
Bảng liệt kê những vấn đề về thị giác trong lớp
Mắt đỏ và mọng nước
Hai mắt bị lệch, lệch vào trong hoặc ra ngoài hoặc không chuyển động đồng
thời
Chợp mắt quá nhiều hoặc đảo mắt quá nhiều, đặc biệt là khi thay đổi độ tập
trung giữa nhìn xa và gần
Mất vị trí khi đọc, đọc lại hoặc tự ý bỏ từ hay dòng, sử dụng ngón tay để
đánh dấu
Bỏ sót, thay đổi, nhắc lại hoặc nhầm lẫn từ tương tự nhau
Khó khăn trong việc đọc hiểu hoặc nhớ những gì đã học
Nhầm lẫn khi diễn dịch hoặc theo những chỉ dẫn viết
Viết lên xuống không thẳng hàng, khoảng cách giữa chữ và từ không đều
Chưa đủ khả năng kết thúc bài tập theo thời gian như những bạn khác
Nhầm lẫn hướng tráI phải
Ghép vần sai nhiều
Mắc lỗi nhiều khi viết bài từ bảng hoặc sách vào vở
- 45 -
Nhầm lẫn thứ tự những con số theo phương đứng và phương ngang
Khó khăn trong việc nhớ, xác định và vẽ lại các hình hình học
Định hướng các hình vẽ trên giấy kém
Phối hợp giữa mắt – tay trong việc cài mở khuy, buộc giầy, chơI thể thao
chưa chuẩn xác.
Tổ chức môi trường phát triển thuận lợi cho trẻ khiếm thị tại trường mẫu giáo
Điều chỉnh và sắp xếp môi trường phù hợp với tật thị giác
Bố trí môi trường lớp học phù hợp sẽ giúp trẻ độc lập và ham muốn được tự khám phá
về thế giới xung quanh, ở đây môi trường không chỉ là ở trong lớp học mà chỉ là cả môi
trường chung của nhà trường. Trẻ không chỉ tìm kiếm các thông tin trong tiết học mà có
thể qua trải nghiệm, tiếp xúc và vui chơi ở vườn trường, sân chơi.
- Môi trường bên trong của lớp học cần được sắp xếp vị trí các góc hoạt động ở các vị
trí thích hợp. Việc sắp xếp lớp học là một biện pháp để trẻ có thể hoạt động học tập theo
nhóm nhỏ và theo cá nhân tích cực hơn. Đó cũng là cách có hiệu quả để biết được nhu cầu,
mức độ phát triển của từng trẻ, tạo điều kiện cơ hội từng trẻ hoạt động độc lập.
Đối với trẻ khiếm thị, việc bố trí sắp xếp lớp học phải tạo được điều kiện thuận lợi cho
trẻ mù đi lại dễ dàng, không bị quá nhiều cản trở và đặc biệt giáo viên nên sắp xếp chỗ
ngồi của trẻ khiếm thị ở gần cô để cô có nhiều điều kiện chú ý đến trẻ hơn.
- Cần chú ý đến nhu cầu đặc biệt về thị giác của trẻ để điều chỉnh môi trường lớp học
hợp lý mà không bị quá tốn kém về chi phí:
+ Lượng ánh sáng trong lớp học phải vừa đủ và phù hợp
+ Giáo viên cần chú ý, sắp xếp hợp lý, đủ rộng và thuận tiện cho trẻ khiếm thị sử dụng
các phương tiện trợ thị
+ Phóng to hoặc làm tăng độ tương phản tranh, ảnh, chữ
+ Lựa chọn đồ dùng, dụng cụ trực quan kích thích các giác quan
+ Vị trí của trẻ khiếm thị trong lớp học: dễ tiếp cận với giáo viên, thuận lợi để quan sát
các đồ dụng trực quan,
Xây dựng bầu không khí tích cực ở trường học giúp trẻ khiếm thị có tâm lý an toàn, tự tin
và thoải mái
Để đảm bảo không khí bình đẳng và tự tin cho trẻ khiếm thị trong lớp mẫu giáo hòa
nhập, giáo viên cần chú ý một số vấn đề sau:
1. Trẻ khiếm thị cũng là một trong số những trẻ của lớp bạn mà mỗi trẻ trong lớp cũng
đều có cá tính và nhu cầu riêng của từng trẻ
2. Sử dụng bình thường và tự nhiên những từ như: “nhìn”, “xem”. Những từ này cũng
là một phần trong vốn từ của trẻ khiếm thị cũng như là vốn từ của trẻ khác
3. Giới thiệu về trẻ khiếm thị một cách bình thường như cách bạn vẫn làm với các trẻ
khác.
4. Khuyến khích trẻ khiếm thị tham gia vào tất cả hoạt động của lớp học, chẳng hạn:
giờ thể dục, giờ tập nội trợ, sử dụng vi tính, hoạt động tạo hình và các hoạt động khác. Các
chuyên gia giáo dục có thể đưa ra những lời khuyên cho các bạn về những phương pháp,
đồ dùng học tập chuyên biệt để giúp trẻ khiếm thị trong hoạt động này.
5. Cũng có lúc, các học sinh của bạn muốn trở thành trung tâm của sự chú ý như làm
lãnh đạo trong nhóm chơi. Bạn cũng khuyến khích trẻ khiếm thị làm vị trí đóng vai trò đó
như các bạn khác trong lớp học.
6. Về cách khen gợi trẻ khiếm thị cũng cần được sử dụng giống như các bạn khác trong
lớp, thay bằng nụ cười thì có thể dùng các động tác khác như phát nhẹ vào lưng hoặc một
cái vỗ vai.
- 46 -
7. Khuyến khích trẻ khiếm thị di chuyển trong lớp học để có thông tin về các đồ dùng
hoặc các thông tin về thị giác. Trẻ khiếm thị sẽ biết những nhu cầu riêng của mình và
phương thức trẻ khiếm thị sử dụng sẽ thành nội quy của lớp học.
8. Trẻ khiếm thị có thể không nhận biết được hoặc có thể không tham gia vào các sự
việc xảy ra trong một khoảng cách, chúng có thể không nhận ra như là: sự biểu hiện của
nét mặt, gật đầu hoặc di chuyển ở cánh tay của giáo viên vì vậy sử dụng tín hiệu lời nói lúc
này là rất cần thiết.
9. Cung cấp những đồ dùng học tập cho trẻ khiếm thị (máy in chữ Braille), sách in chữ
to, thiết bị trợ thị, giá đọc sách
10. Mục đích để các bạn khác trong lớp cũng có hiểu biết về tật khiếm thị, hãy để trẻ
tham gia các chủ đề có liên quan đến thị lực và khiếm thị. Tuy nhiên nếu quá chú ý đến tật
khiếm thị sẽ gây ra các phản ứng khác nhau của học sinh.
11. Tất cả trẻ đều nhạy cảm với những nhận xét của bạn trong lớp. Việc bạn chấp nhận
có trẻ khiếm thị ở trong lớp là một ví dụ tích cực cho các trẻ trong lớp.
12. Vì học sinh khiếm thị mang đến lớp học các phương tiện trợ thị. Nên khuyến khích
trẻ sử dụng các phương tiện trợ thị và trả lời bất kì câu hỏi nào các trẻ khác về các phương
tiện đó.
13. Vì trẻ khiếm thị không thích gây sự chú ý của người khác đến tật của mình, vì vậy
chúng thường sử dụng các phương tiện đặc biệt và chỉ đề nghị các bạn khác giúp khi bắt
buộc. Nhìn chung bạn nên tôn trọng ý muốn của trẻ, chỉ trừ khi bạn cảm thấy trẻ thực sự
cần thêm sự hỗ trợ hoặc có những vấn đề khó khăn khác, bạn cần thảo luận các vấn đề đó
với chuyên gia.
14. Khi tiếp cận với trẻ khiếm thị chỉ trừ khi trẻ biết rõ về bạn nếu không phải luôn
xưng tên của mình khi nói chuyện với trẻ.
15. Trẻ mù hoặc trẻ khiếm thị sẽ có thể có những hành vi bất thường như: dụi mắt, lắc
người, gục đầu, bạn nên khuyến khích những tư thế đúng và tìm ra cách giải quyết giúp
trẻ hạn chế những hành vi không thích hợp. Sự giao tiếp mắt – mắt, mặt – mặt cần được
khuyến khích.
16. Trẻ khiếm thị cần được làm các bài tập bình thường như những trẻ khác.
17. Nâng cao khả năng độc lập của trẻ, hãy để trẻ khiếm thị được tự làm mọi việc ở bất
kì lúc nào trẻ có thể. Trẻ khiếm thị cũng cần học các cách đề nghị giúp đỡ trong các tình
huống cần thiết. Ngoài ra cũng nên khuyến khích các bạn trong lớp giúp đỡ trẻ khiếm thị.
18. Trẻ khiếm thị giống các học sinh khác hơn là khác. Hay xử sự với trẻ như cách nghĩ
trên.
Tạo điều kiện tương tác trong nhóm bạn
Phản ứng của các bạn cùng lớp với trẻ khiếm thị
Những trẻ này khó có thể nhận ra hoặc hiểu được những nhu cầu thị giác đặc biệt của
người nhìn kém. Lúc đầu, chúng có thể tò mò về cách người nhìn kém nhìn hoặc tại sao
một người đã đeo một chiếc kính dày cộp rồi mà vẫn cần dùng một chếc kính phóng đại để
đọc hoặc sử dụng máy tính. Trẻ thường đặt các câu hỏi như:”Tại sao bạn lại dùng quyển
sách to đùng này?”, “Tại sao bạn cứ phải dí mắt vào mọi thứ?”, hoặc nhạo báng một cách
thô bạo “Bạn xấu lắm, bạn có 4 mắt”, hoặc “Tôi không muốn bạn chơi trong nhóm của tôi,
bạn không thể đá bóng được”.
Các bạn khác có thể phản ứng một cách kín đáo/ tế nhị hơn nhưng vẫn có sự tò mò và
không thoải mái với những khác biệt trong việc thực hiện chức năng đối với trẻ khiếm thị.
Tiếp cận giáo dục cá biệt dựa trên kế hoạch giáo dục cá nhân
Mỗi trẻ em là một cá thể riêng biệt, vì vậy trong quá trình dạy học hòa nhập cho trẻ
khiếm thị phải chú ý tiếp cận cá biệt với từng trẻ.
- 47 -
- Tìm hiểu khả năng nhận thức, kĩ năng của từng trẻ. Từ đó, đưa ra được mục tiêu cá
nhân tong một thời gian nhất định. Đối với trẻ khiếm thị, giáo viên có thể trên cơ sở đánh
giá khả năng cá nhân mà điều chỉnh các mục tiêu phù hợp với khả năng của từng trẻ trong
từng bài học, từng mục tiêu của các giai đoạn khác nhau.
- Tiếp cận cá biệt về nhu cầu và hứng thú hoạt động. Nhờ vậy, yêu cầu của giáo viên
đối với trẻ không bị quá cao hay quá thấp so với khả năng của từng trẻ. Giáo viên có thể
dựa vào sở thích để giao nhiệm vụ cho từng trẻ.
- Cần tạo điều kiện để trẻ vận dụng và tìm kiếm những phương thức học tập phù hợp
với khả năng và ý đồ của trẻ và tạo điều kiện để trẻ được độc lập và chủ động thực hiện ý
đồ của mình.
- Xây dựng kế hoạch học tập cho từng trẻ.
Sử dụng các công cụ hỗ trợ
Công nghệ không làm giảm mọi khó khăn đối với người khiếm thị nhưng nó lại hạn
chế đáng kể mức độ của những khó khăn mà họ gặp phải. Nó mở ra cho họ một lối thoát
mà trước đây người ta vẫn nghĩ là họ bị bế tắc hoàn toàn.
Hệ thống các công cụ hỗ trợ có thể bao gốm: thiết bị trợ giúp quang học và thiết bị phi
quang học.
- Thiết bị trợ giúp quang học.
Thiết bị trợ giúp quang học nhằm giúp trẻ nhìn kém tận dụng được tối ưu khả năng thị
giác còn lại, vì vậy khi trẻ đã được chỉ định sử dụng một loại thiết bị trợ giúp nào thì giáo
viên cần khuyến khích trẻ luôn luôn sử dụng thiết bị trợ thị.
- Thiết bị trợ giúp phi quang học
Các dụng cụ phi quang học nhằm giúp trẻ rút ngắn khoảng cách khi đọc hoặc có tư thế
ngồi phù hợp. Ngoài ra, có những thiết bị chỉ đơn giản, rẻ tiền nhưng lại giúp tăng độ
tương phản của hình ảnh.
Với sự ra đời của công nghệ thông tin, người khiếm thị có thể dùng được nhiều loại đồ
dùng trong gia đình. Những đồ dùng này cần một số hình thức hoạt động riêng hỗ trợ cho
người khiếm thị như: nhiệt kế và máy biết nói, đồng hồ biết nói, máy ghi âm với các tốc độ
khác nhau, phần mềm đọc chữ in cỡ lớn
Tận dụng tối đa các giác quan còn lại của trẻ khiếm thị
Ngoài các giác quan như: xúc giác, thính giác, khứu giác, vị giác thì phần lớn trẻ khiếm
thị đều có khả năng thị giác còn lại. Tận dụng các giác quan khác có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong việc khám phá và thực hiện các hoạt động chức năng của trẻ khiếm thị.
- Xúc giác giúp trẻ tìm hiểu đặc tính của sự vật, nó phản ánh tính không gian cơ học,
cảm nhận các thuộc tính như: nóng, lạnh, chất liệu của đồ vật Đối với trẻ mù, xúc giác là
công cụ để trẻ học chữ nổi Braille.
- Thính giác giúp trẻ định hướng trong không gian, âm thanh cũng giúp trẻ phản ánh
thuộc tính của các vật: từ, kim loại, gỗ khuyến khích trẻ phát hiện tiếng động, âm thanh
ở những thời điểm, vị trí khác nhau. So sánh các loại âm thanh qua các trò chơi, cho trẻ tập
bắt chước nhịp điệu của một số âm thanh quen thuộc.
- Trong các hoạt động hàng ngày của trẻ ta cần chú ý kết hợp việc tận dụng khả năng
của tất cả các giác quan để bù trừ cho khả năng thị giác đã bị thiếu hụt của trẻ.
- 48 -
7.3. Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính
7.3.1. Khái niệm CTS cho trẻ khiếm thính
Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính là chương trình hướng dẫn phụ huynh có con bị
khiếm thính, giúp họ biết cách trực tiếp giúp đỡ con mình phát triển khả năng giao tiếp,
khả năng nghe và nói ngay từ khi còn nhỏ.
7.3.2. Phát hiện, chẩn đoán và đánh giá sớm tật khiếm thính
Phát hiện là tìm tòi các dấu hiệu và tín hiệu cho thấy sự phát phát triển của trẻ có
nguy cơ hoặc đang tiến triển một cách không bình thường.
Chẩn đoán bao gồm việc nhận ra một khuyết tật về phát triển cùng với các nguyên
nhân được đặt ra.
Phát hiện và chẩn đoán sớm mới có hy vọng điều trị, ngăn chặn tật và để kịp thời
tiến hành phục hồi chức năng.
Ngay sau khi nghi ngờ rằng trẻ có vấn đề về thính giác, hãy sớm đưa trẻ đi kiểm tra
(đo sức nghe) tại một trung tâm thính học. Tuỳ theo điều kiện và độ tuổi của trẻ mà người
ta sẽ thực hiện những test đo sức nghe khác nhau: qua quan sát hành vi, đo phản xạ định
hướng có điều kiện, đo đơn âm kết hợp với trò chơi, đo đơn âm, đo trở kháng, đo điện
thính giác thân não.
7.3.3 Các giai đoạn can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính
Can thiệp sớm và hỗ trợ của gia đình
Ngôn ngữ nói với công tác CTS cho trẻ khiếm thính
Tại sao phải sử dụng phương pháp dùng ngôn ngữ nói?
- Phương pháp dùng lời phát huy đến mức tối đa việc sử dụng khả năng nghe hơn là
khả năng nhìn.
- Nghe là phương pháp hữu hiệu và đúng đắn nhất trong việc tiếp nhận lời nói và
trong việc phát triển vai trò của kỹ năng giao tiếp bằng lời.
- Trẻ khiếm thính hiếm khi điếc hoàn toàn và với những tiến bộ về mặt kỹ thuật
như máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai, phần lớn trẻ khiếm thính đủ năng lực tiềm tàng để
có thể tận dụng sức nghe còn lại.
- Ngôn ngữ nói là phương cách được sử dụng trong một xã hội rộng lớn. 2.2.2.
Những yếu tố cơ bản của CTS cho trẻ khiếm thính tại gia đình
Vai trò của phụ huynh
- Cha mẹ và trẻ có mối quan hệ mật thiết. Từ đó hình thành các mối quan hệ thân
thiết giữa các thành viên trong gia đình.
- Phụ huynh là người có khả năng trò chuyện bẩm sinh với con của mình
- Vì phụ huynh và trẻ cùng chung sống dưới một mái nhà nên phụ huynh là người
hiểu trẻ nhanh nhất, nắm bắt chính xác nhất những nhu cầu mà trẻ muốn nói. Đây là một
điều kiện thuận lợi cho trẻ giao tiếp bằng lời.
- Là người có nhiều cơ hội trò chuyện với trẻ.
- Phụ huynh và trẻ là người gắn bó với nhau suốt đời (giáo viên, những người
hướng dẫn chỉ có thể chơi với trẻ trong thời gian nào đó mà thôi)
Vai trò của người hướng dẫn
- Người hướng dẫn sẽ là người cung cấp kiến thức và kỹ năng cho phụ huynh về
các kỹ năng giao tiếp bằng lời cho trẻ.
- 49 -
- Vai trò của người hướng dẫn là người hướng dẫn cha mẹ giúp đỡ con mình chứ
không phải là người trực tiếp dạy trẻ (nhiều khi cha mẹ không có thời gian, không chú ý
đến con xem người hướng dẫn/giáo viên như là gia sư)
Sử dụng phương pháp hội thoại
Để giúp đỡ cha mẹ biết cách hội thoại với trẻ khi ở nhà. Giai đoạn trẻ từ 0 đến 3
tuổi là giai đoạn rất quan trọng cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nên rất cần có sự giao
tiếp, cách thức giao tiếp giữa cha mẹ và trẻ một cách tự nhiên, cởi mở.
Chăm sóc thính học
- Chẩn đoán sớm
- Đeo máy trợ thính sớm, cả ngày và hàng ngày
- Phụ huynh được hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản máy trợ thính ở nhà
Cung cấp thông tin cho gia đình trẻ khiếm thính
- Cung cấp cho cha mẹ những kiến thức về các lĩnh vực khác nhau như: máy trợ
thính, phương pháp hội thoại, sách, chuyện.
- Qua trao đổi trực tiếp và cung cấp tài liệu
- Cung cấp thông tin phụ thuộc vào nhu cầu, khả năng, điều kiện của từng gia đình,
từng trẻ.
Hỗ trợ gia đình trẻ
- Giáo viên hiểu được những suy nghĩ của cha mẹ trẻ và lắng nghe ý kiến của họ
- Giáo viên động viên cha mẹ trẻ - vốn là người nhạy cảm nhất đối với sự thay đổi
của con. Trước hết là sự hỗ trợ về tâm lý, tình cảm, kiến thức. Vai trò của phụ huynh rất
quan trọng trong CTS giai đoạn I. Cha mẹ vốn có bản năng chăm sóc con những khi có con
bị khuyết tật họ quên đi giao tiếp thông thường mà cứ nghĩ phải đối xử với đứa trẻ một
cách đặc biệt.
Phụ huynh giúp đỡ phụ huynh
Phụ huynh gặp gỡ trao đổi với nhau: trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ về mặt tâm lý
(những người đồng cảm có khả năng đồng cảm cao nhất).
Hoà nhập (không tách biệt trẻ) trẻ khiếm thính học và chơi với trẻ nghe cùng lứa tuổi.
Làm thế nào dể giúp phụ huynh phát triển kỹ năng giao tiếp, hội thoại với con họ.
- Quan sát phụ huynh ở nhà và ở trung tâm
- Quan sát kỹ năng của phụ huynh trong khi họ và trẻ thực hiện các hoạt động
- Dùng bảng đánh giá để đánh giá kỹ năng của phụ huynh
- Chọn những kỹ năng nào cần nâng cao và những kỹ năng nào cần khuyến khích.
- Quyết định cách thức nâng cao kỹ năng hội thoại cho phụ huynh
Can thiệp sớm tại trường mầm non
Một số biện pháp quan trọng trong công tác tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm
thính ở trường MGHN
Tạo môi trường nghe tốt cho trẻ
- Môi trường càng yên tĩnh càng tốt.
- Tạo điều kiện nghe tốt cho trẻ liên quan đến hàng loạt vấn đề về cơ sở vật chất
của trường.
- Khi nói chuyện với trẻ nên cách trẻ trong vòng 1m và nhìn trẻ, xếp chỗ ngồi cho
trẻ gần bảng, gần giáo viên,
- 50 -
Tạo môi trường an toàn về mặt cảm xúc-xã hội cho trẻ:
Để tạo môi trường tâm lý thích hợp cho trẻ, giáo viên và nhà trường hòa nhập cần
lưu ý đến những yếu tố sau:
- Trẻ khiếm thính là thành viên của cộng đồng dân cư nơi mà trẻ sống.
- Nhà trường phải cân nhắc và xem xét một cách nghiêm túc những khả năng mình
có thể đem lại cho trẻ khiếm thính một sự giáo dục phù hợp
- Việc chấp nhận trẻ khiếm thính vào trường không chỉ là trách nhiệm của hiệu
trưởng nhà trường mà còn cần sự ủng hộ của giáo viên .
- Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên phải thực sự tham gia xây dựng kế hoạch
giáo dục cá nhân cho từng học sinh khiếm thính.
- Giáo viên dạy lớp hòa nhập có trẻ khiếm thính phải chấp nhận một thực tế là
không phải tất cả các trẻ đều có khả năng và cách học giống nhau.
- Giáo viên dạy hòa nhập nên được đào tạo về chuyên ngành giáo dục trẻ khiếm
thính.
- Nhà trường và giáo viên hòa nhập phải thông báo cho cha mẹ trẻ bình thường biết
về sự có mặt của trẻ khiếm thính và là cầu nối để tạo nên sự chia sẻ, thông cảm và chấp
nhận nhau giữa cha mẹ các trẻ.
Tạo môi trường ngôn ngữ xung qu
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- stlh0011_p2_2948.pdf